Văn mẫu lớp 11

Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến

Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến – Bài 1

Một năm có bốn mùa, mỗi mùa mang một vẻ đẹp, một đặc trưng riêng. Mùa xuân với những chồi lá xanh mơn man đâm chồi nảy lộc, mùa hạ vs tiếng ve lao xao, mùa đông mang sắc man mác buồn gợi vẻ hiu quạnh. Riêng mùa thu thì khác, mùa thu lúc nào cũng êm đềm, lãng mạn, vì thế luôn trở thành đề tài bất tận với các nhà văn, nhà thơ. Rất nhiều lần mùa thu được đưa vào tác phẩm của các nhà thơ như Hữu Thỉnh, Nguyễn Đình Thi… Nhưng yêu mùa thu nhất có lẽ không ai khác ngoài Nguyễn Khuyến. Ông có cả một chùm thơ về mùa thu là Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm. Và trong những bài thơ đó, mùa thu trong Thu điếu dường như là gần gũi, bình dị nhất khi tác gỉa miêu tả một cách chân thực mùa thu yên bình ở vùng nông thôn Bắc Bộ.

Mở đầu bài thơ là những câu từ giản dị nhưng lại rất tinh tế. Một bức tranh mùa thu nơi làng quê thanh bình, yên ả hiện lên trong tâm trí người đọc:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Một chiếc cần câu bé tẻo teo.

Không gian tưởng chừng được thu hẹp ở một nơi đó là chiếc ao câu cá. Nhưng lại khiến tác giả cảm nhận rõ rệt mùa thu qua sắc nước. Nước mùa thu “ trong veo” gợi cảm giác êm đềm, nhưng cũng man mác buồn. Đây cũng là đặc trưng của mùa thu miền Bắc. “ Chiếc cần câu” bé nhỏ được nói đến, đơn độc ở giữa chiếc ao hẹp càng làm ta có cảm giác không gian hẹp hơn. Không gian nhỏ bé được lột tả rõ qua cụm từ “ bé tẻo teo”. Thu về mang theo cảm giác êm đềm, bình lặng.

Sóng biếc theo làn hơi gợn tý

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Đến câu thơ tiếp theo, sự yên lặng, trầm tĩnh ở trên đã không còn nữa. Mà dường như những âm thanh, cảnh sắc mùa thu đang dần len lỏi vào, phá vỡ sự êm đềm của khung cảnh nơi đây. Sóng nước lăn tăn nơi mặt hồ, tựa như mùa thu cũng đang chuyển động. Hình ảnh lá vàng cho ta thấy rõ nét đặc trưng của mùa thu. Cuối câu thơ, tác giả dùng từ “ vèo” gợi cảm giác sự thoáng qua nhanh chóng, chưa kịp nhận ra để nắm bắt.

>> Xem thêm:  Phân tích nhân vật Hộ để làm rõ tính bi kịch tinh thần của trí thức trước Cách Mạng Tháng Tám

Và có lẽ không gian nhỏ bé vùng nông thôn Bắc Bộ, cùng với sự chuyển giao tinh tế, nhẹ nhàng, khiến cho không chỉ tác giả mà ai cũng phải xiêu lòng.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Không gian mùa thu nơi đây dường như được mở rộng hơn, không còn bó hẹp chỉ ở ao thu lạnh léo nữa, mà đã lan tỏa rộng rãi lên đến tận trời cao xanh ngắt, với những tầng mây lơ lửng trôi. Màu xanh đặc trưng của bầu trời mùa thu, khiến cho ai cũng khó có thể cưỡng lại sự thật là trời đã sang thu. Nhưng cũng đồng nghĩa với việc, mùa thu mang nét gì đó buồn và ảm đạm, vắng vẻ. Khiến cho những con ngõ nhỏ quanh co không có người qua lại. Tác giả dùng cách gieo vần “ eo” ở “ khách vắng teo” càng khiến cho sự yên tĩnh trở nên cực độ. Đường làng ngõ xóm mà người đâu không thấy, chỉ thấy một sự tĩnh lặng đến đáng buồn khiến cho tác giả phải suy nghĩ.

Tựa gối ôm cần lâu chẳng được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Cuối cùng, chủ nhân của chiếc cần câu ở hai câu thơ đầu đã hiện ra. Mùa thu đến mang theo sự tĩnh lặng, yên bình đến nỗi tác giả cảm thấy mình thật cô độc, lạc lõng ở nơi đây. Tác giả ngồi với tư thế “ tựa gối”, như đang tự thu mình lại để hợp hơn với không gian bé nhỏ ở vùng quê vắng vẻ này. Đang mơ hồ nhưng choẹt tỉnh khi nghe cá đớp dưới chân bèo. Người câu cá đang ru hồn, thả mình vào với giấc mộng mua thu. Tác giả có lẽ đang rất cô đơn và buồn một cách đơn độc. Nhưng theo một cách nào đó ta có thể hiểu rằng, hình ảnh cá đớp động như tượng trưng cho những biến động của xã hội lúc bấy giờ, khi đất nước đang rơi vào cảnh lầm than. Nhờ vậy ta có thể hiểu được tấm lòng đáng quý cảu tác giả khi ngày đêm lo lắng cho nước, cho dân nhưng chỉ có một mình nên đành bất lực, không thể làm gì hơn.

“Thu điếu“ dường như là một bài thơ tuyệt tác nói về mùa thu.Với những phép nghệ thuật đối, gieo vần, cùng những câu chữ nhẹ nhàng mà tinh tế, tác giả đã vẽ nên một bức tranh mùa thu yên bình tuyệt đẹp nhưng mang chút gì đó hơi cô độc, lặng lẽ và man mác buồn.

>> Xem thêm:  Bình giảng bài thơ Vịnh khoa thi hương của Tú Xương văn 11

Phân tích bài thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến – Bài 2

Mùa thu, mùa của hoa sữa thoảng thoảng, mùa của rơm rạ vàng thơm, mùa được các nhà thơ yêu và đưa vào trong những trang thơ nhiều nhất.Với Nguyễn Thỉnh nhẹ nhàng mùi hương ổi ông đã cảm nhận được thu về: “Bỗng nhận ra hương ổi – phả vào trong gió se- sương chùng trình qua ngõ -hình như thu đã về”.Nhưng mùa thu trong mắt Nguyễn Khuyến thì lại khác.Qua  bài thu điếu ta thấy đằng sau cảnh thu tĩnh lặng thì lại là nỗi niềm tâm sự sâu kín của người thi sĩ

Thu điếu viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú,hầu hết tám câu thơ đều tả cảnh, hình ảnh con người chỉ xuất hiện ở hai câu cuối.Cảnh của bài thơ vẫn là trời, nước gió, trúc.. những hình ảnh quen thuộc trong thơ xưa

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

Hình ảnh “ao thu” miêu tả với tính từ “lạnh lẽo”.Có lẽ cái lạnh của mùa thu cũng ngấm dần vào làn nước và ngấm dần vào tâm hồn nhà thơ.Tính từ “trong veo” miêu tả làn nước, không gian tĩnh lặng.Nước trong veo chứ không phải là lăn tăn gợn sóng, hai âm “eo” được lặp liên tiếp ở câu trên và câu dưới khiến cho cảm giác về sự tĩnh lặng càng trở nên thật hơn

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo

Không gian lạnh lẽo của mùa thu ấy xuất hiện chiếc thuyền cô đơn lẻ loi.Tác giả dùng từ “bé tẻo teo” khiến cho chiếc thuyền càng trở nên nhỏ bé hơn,đơn độc hơn.Nhà thơ Nguyễn Du đã từng nói: người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.Thật đúng cảnh dưới con mắt nhà thơ sao mà buồn tẻ, sao mà cô đơn đến lạ.Cuộc sống bây giờ tĩnh lặng đến nghẹt thở chẳng có âm thanh để chứng tỏ cuộc sống ồn ã vẫn đang tiếp diễn

Sóng biêc theo làn hơi gợn tí

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo

Bức tranh thu tiếp tục hiện lên hình ảnh “Sóng và lá vàng”.Mọi vận động  đều khẽ khàng và nhẹ nhàng như thế “sóng lăn tăn gợn tí”, “lá vàng đưa vèo”.Tác giả thật tinh tế về việc sử dụng từ tượng hình và từ tượng thanh.Cảnh vật miêu tả theo chiều hướng lấy động tả tĩnh, dù bức tranh ấy có âm thanh nhưng âm thanh khẽ khàng quá lại càng toát lên vẻ tĩnh lặng của mùa thu

>> Xem thêm:  Văn 11 bình giảng bài thơ Hương sơn phong cảnh ca của Chu Mạnh Chinh

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt

Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

Không gian được mở rộng ra cả tầm cao và tầm rộng. “Tầng mây lơ lửng” mây cứ chùng chình lơ lửng, mây cũng chẳng muốn bay.Cuộc sống chẳng hối hả hay tâm hồn nhà thơ đang sâu đầy tâm tư.Bầu trời thu “xanh ngắt”, màu sắc đậm nét của bức tranh thu,mỗi nét vẽ của Nguyễn Khuyến đếu rất dứt khoát để tả cảnh vật “ đưa vèo”, “hơi gợn tí”, “xanh ngắt”.Mây trời đơn điệu và tẻ nhạt.Còn ngõ trúc “quanh co”,“vắng teo”.Nguyên từ “vắng” đã nói rõ sự tĩnh lặng rồi nhưng tác giả lại còn sử dụng “ vắng teo” thì có nghĩa không gian thu ấy không âm thanh,không chút cử động,không bóng người chỉ có màu sắc ơ thờ không hòa quyện

Bởi thế hai câu thơ cuối bài là một sự trống vắng, là nỗi cô đơn đến thắt lòng

Tựa Gốm ôm cần lâu chẳn được

Cá đâu đớp động dưới chân bèo

Đến đây hình ảnh con người đã xuất hiện nhưng lại với tư thế “ ngồi tựa gối”, “ôm cần”. Trong trạng thái trầm tư và sâu cảm, cảnh vật đã cô đơn con người lại càng cô đơn hơn.Nhà thơ ngồi câu lâu chẳng được.Từ “cá đâu” là cách hỏi mơ hồ  không định hướng,nhưng cũng có thể là sự ngỡ ngàng trong lòng người.Nhà thơ chìm sâu trong suy nghĩ miên man,mất cảm giác ở thực tại nên mới “cá đâu đớp động dưới chân bèo”.Nhà thơ muốn tìm sự thư thái trong tâm hồn nên mới đi câu.Nhưng cảnh vật tĩnh lặng đến ngẹt thở lại càng làm nhà thơ chìm sâu trong nỗi cô đơn.

Cảnh thu đẹp và buồn trong bài thu điếu đã được Nguyên Khuyến miêu tả thật khéo léo và tinh tế.Cảm xúc, tâm tư của nhà thơ được dồn nén qua từng câu thơ, trong cảnh vật thu ấy.Thu điếu đi vào lòng người nhẹ nhàng và buồn man mác, khiến người đọc biết thêm về làng quê Việt Nam với những nét đẹp khác.

Từ khóa tìm kiếm:

  • phân tích bài thu điếu của nguyễn khuyến